Uy tín
Chất lượng
Hiệu quả
Cleaning Service
Pest Control Service
Uy tín
Chất lượng
Hiệu quả
Cleaning Service
Pest Control Service
Uy tín
Chất lượng
Hiệu quả
Cleaning Service
Pest Control Service
Uy tín
Chất lượng
Hiệu quả
Cleaning Service
Pest Control Service
Uy tín
Chất lượng
Hiệu quả
Cleaning Service
Pest Control Service
Uy tín
Chất lượng
Hiệu quả
Cleaning Service
Pest Control Service
Uy tín
Chất lượng
Hiệu quả
Cleaning Service
Pest Control Service
Uy tín
Chất lượng
Hiệu quả
Cleaning Service
Pest Control Service

ĐÁNH BÓNG VÀ KHÔI PHỤC VỀ MẶT CÁC LOẠI ĐÁ (Terrazzo, Marble, Granite…)

- Super User

Một vài điểm cần lưu ý để chăm sóc sàn đá:

1. Phủ một lớp hóa chất chống thấm lên các bề mặt đá và các đường ron giúp ngăn chặn việc bị các vết bẩn thấm xuống.

2. Vệ sinh các bề mặt đá bằng các loại đầu lau cotton, các miếng xốp mềm hoặc khăn và thường xuyên thay khi bị cũ.

3. Làm sạch các mảnh vỡ...

Dịch vụ đánh bóng và khôi phục bề mặt các loại đá

Quy tắc và quy trình đối với dịch vụ đánh bóng sàn đá

1. Dịch vụ đánh bóng sàn đá: SÀN ĐÁ MARBLE, GRANITE

Phân loại đá:

1.1. Đá tự nhiên (hay còn gọi là đá xẻ): Đá tự nhiên được khai thác trong tự nhiên và được xẻ thành từng miếng có kích thước, độ mỏng và dày khác nhau, đá có thể được mài nhẵn hoặc để sần. Đá tự nhiên được dùng để lát hành lang, bệ các thiết bị vệ sinh, bậc cầu thang, ốp tường, sàn, sảnh, cột, tam cấp . Đá tự nhiên gồm có các loại đá sau:

 

            Đá Granite, Basalt (hay còn gọi là đá hoa cương, nguồn gốc đá mácma): Các loại đá Granite, Basalt này về cơ bản được hình thành từ nham thạch, nên độ cứng rất cao do chịu sự dồn nén cao độ của vỏ trái đất  (đạt 7/10 điểm trong thước đo độ cứng MOHS), bề mặt đá sẽ bóng như gương nếu như được mài nhẵn. Đá Granite, Basalt thường đồng màu giữa các lô đá khác nhau, có dạng cấu tạo tinh thể, ít màu sắc và hoa văn. Thông thường người ta xẻ khổ đá Granite là 60cm, 80cm, 100cm, ít khi xẻ đá tấm slap lớn.

            Đá Marble (hay còn gọi là đá vôi, đá hoa, nguồn gốc đá trầm tích biến biến chất): Đá này cấu tạo xốp hơn đá Granite nên dễ bị mài mòn, dễ bị thấm chất bẩn hơn và nó có độ cứng kém hơn đá Granite (đạt 3/10 điểm trong thước đo độ cứng MOHS). Đá Marble thường biến động nhiều về màu sắc, vân tự nhiên giữa các lô đá khác nhau, vân đá tạo hoa văn và có nhiều màu sắc.

1.2. Đá nhân tạo: Được làm từ bột đá thiên nhiên thông qua quá trình phản ứng hóa học để tạo ra sự kết dính, ép lại thành từng khối đá nhân tạo. Đá nhân tạo thông thường người ta tạo màu và vân đá mô phỏng theo một số đá Marble thiên nhiên đá nhân tạo còn gọi là Marble nhân tạo. Đá nhân tạo cứng như đá Marble thiên nhiên, màu sắc và vân đá đồng nhất hơn đá thiên nhiên. Thông thường có 3 cách thức sản xuất đá nhân tạo cho ra những đặc tính sản phẩm khác nhau.

Ép sống: tức là dùng bột đá, thông qua phản ứng hóa học để ép lại thành đá khối nhân tạo, loại đá này màu sắc tươi tắn, phong phú, phù hợp ốp hạng mục nội thất như nền, tolet, quầy, trang trí tường…

Ép chín: tức là dùng bột đá thông qua phản ứng hóa học cộng với nung ở nhiệt độ cao, loại đá này rất cứng, có khả năng chống chày xước, màu sắc bền, có thể tốt hơn đá thiên nhiên, có thể ốp cả nội và ngoại thất.

Dạng đúc: dùng bột đá và một số chất hóa học, nung ở nhiệt độ cao, nhưng không phải ép lại thanh khối đá, mà đúc trực tiếp thành đá tấm (slap) có độ bóng tốt, cứng, phù hợp ốp cả nội ngoại thất.

 1.3. Gạch (Ceamic tiles): Đây là loại vật liệu xây dựng phổ biến và lâu đời nhất trên thế giới, là sản phẩm hoàn thiện dùng để trang trí và bảo vệ công trình. Tùy theo tính năng của từng loại, gạch men được dùng để lát sàn hoặc ốp tường, lối đi, cầu thang, hồ bơi....Quá trình để cho ra đời 1 viên gạch qua từ khâu chọn lọc đến khâu phối kết nguyên vật liệu trong thiên nhiên như: cao lanh, trường thạch, đất sét, các loại men màu và những phụ gia khác. Quy trình sản xuất các loại gạch khác nhau thì quy trình công nghệ cũng khác nhau, bao gồm gạch phủ men( Glazed tile), gạch Granite (gạch giả đá: unglazed tile, homogeneous tile), gạch granite phủ men( gres porcelain)...

Gạch phủ men ( Gạch Ceramic có cốt liệu 70% là đất sét và 30% Glazed tile) gồm lớp men phủ trên bề mặt phần xương của viên gạch, đây là 1 sản phẩm rất thông dụng hiện nay. Tùy theo thiết kế của nhà sản xuất ứng với từng công dụng của sản phẩm mà cho ra nhiều loại sản phẩm khác nhau về độ bóng, mờ, nhám hoặc xù xì. Các đặc tính của gạch men lát sàn: độ cứng cao (>5 độ MOHS), độ thấm nước khá thấp (< 6%), khả năng chống mài mòn, chống trơn phải đạt tiêu chuẩn chất lượng và yêu cầu quy định. Đối với gạch men ốp tường thì thiên về trang trí nhiều hơn nên tính chất thẩm mỹ được chú trọng nhất, các tiêu chuẩn kỹ thuật không đòi hỏi phải cao như các tiêu chuẩn dành cho gạch men lát sàn.

    Gạch Granite hay còn gọi là gạch thạch anh, gạch đồng nhất ( unglazed tile), gạch bóng kiếng. Gạch granite gồm 70%  là tràng thạch và 30% là đất sét và một số chất phụ gia khác. Đây là loại gạch lát không lớp phủ men, toàn bộ viên gạch là một khối đống chất về nguyên liệu,độ bóng cũng như màu sắc của gạch là do kỹ thuật mài chứ không có lớp men.Kích thước chuẩn tuyệt đối nên mạch ghép rất nhỏ. Sản phẩm có độ cứng bề mặt rất cao (>5 độ MOHS), độ thấm nước rất thấp(<0.5%), đáp ứng được nhu cầu sử dụng tại các khu vực có độ mat sát cao và lưu lượng người qua lại lớn.

    Gạch Granite phủ men là sự kết hợp tuyệt vời giữa 2 loại gạch nói trên,với thiết kế hoa văn phong phú của phần men cùng với tiêu chuẩn chất lượng cao của phần xương Granite, gạch Granite phủ men đã đáp ứng được các yêu cầu cao về thẩm mỹ cũng như chất lượng đúng theo tên gọi của nó.

1.4. Gạch bông, gạch terrazzo:được làm từ bột đá cẩm thạch, cát, xi măng, bột màu.. bằng phương pháp ép thủy lực, sau đó tráng 1 lớp men có độ dày khoảng 2.5mm, độ hút nước đảm bảo <10%. Sử dụng sáp chuyên dụng để đánh bóng.  

Tính chất vật liệu đá
  • Đá Marble dễ bị bám bẩn và trầy xước do quá trình đi lại gây nên. Các oxit kim loại trong thành phần của đá là chủ yếu tạo nên màu sắc của đá, do đó đá sẽ bị mất màu khi bị các hóa chất mang tính axit hay chất tẩy Clo thẩm xuống mặt đá.
  • Đá có độ cứng rất cao và chịu mài mòn tốt nên thường được sử dụng ở những nơi nhiều người qua lại.
Nguyên tắc đánh bóng đá
  • Tùy theo tình trạng của bề mặt đá mà dịch vụ đánh bóng đá quyết định phương pháp đánh bóng.
  • Phương pháp đánh bóng bề mặt đá được quyết định tùy thuộc vào tình trạng của bề mặt đá. Nếu bề mặt đá bị trầy xước sâu, cũ, mất độ bóng hoàn toàn thì cần phải phá bỏ lớp đá cũ bằng phương pháp tạo ma sát vật lý với đĩa kim cương hoặc pad.
  • Để làm bóng đá thì sử dụng hóa chất đánh bóng đá. 
Chú ý khi thực hiện dịch vụ đánh bóng sàn đá
  • Do đá có cấu tạo theo thớ đá nên nếu không có lớp bảo vệ thì chất bẩn sẽ thấm sâu xuống bề mặt đá. Rất trơn khi sàn đá bị ướt, vì vậy khi lau ướt sàn phải có biển báo.
  • Cần phân biệt chính xác đá Granite với đá Marble, cũng như phân biệt với các loại gạch ceramic, gạch Granite, gạch porcelain.
  • Trước khi sử dụng hóa chất, cần phải thử trước ở một nơi khuất để xem hóa chất có làm hỏng bề mặt đá hay không.

Quy tắc và quy trình đối với dịch vụ đánh bóng sàn đá

1. Dịch vụ đánh bóng sàn đá: SÀN ĐÁ MARBLE, GRANITE

Phân loại đá:

1.1. Đá tự nhiên (hay còn gọi là đá xẻ): Đá tự nhiên được khai thác trong tự nhiên và được xẻ thành từng miếng có kích thước, độ mỏng và dày khác nhau, đá có thể được mài nhẵn hoặc để sần. Đá tự nhiên được dùng để lát hành lang, bệ các thiết bị vệ sinh, bậc cầu thang, ốp tường, sàn, sảnh, cột, tam cấp . Đá tự nhiên gồm có các loại đá sau:

            Đá Granite, Basalt (hay còn gọi là đá hoa cương, nguồn gốc đá mácma): Các loại đá Granite, Basalt này về cơ bản được hình thành từ nham thạch, nên độ cứng rất cao do chịu sự dồn nén cao độ của vỏ trái đất  (đạt 7/10 điểm trong thước đo độ cứng MOHS), bề mặt đá sẽ bóng như gương nếu như được mài nhẵn. Đá Granite, Basalt thường đồng màu giữa các lô đá khác nhau, có dạng cấu tạo tinh thể, ít màu sắc và hoa văn. Thông thường người ta xẻ khổ đá Granite là 60cm, 80cm, 100cm, ít khi xẻ đá tấm slap lớn.

            Đá Marble (hay còn gọi là đá vôi, đá hoa, nguồn gốc đá trầm tích biến biến chất): Đá này cấu tạo xốp hơn đá Granite nên dễ bị mài mòn, dễ bị thấm chất bẩn hơn và nó có độ cứng kém hơn đá Granite (đạt 3/10 điểm trong thước đo độ cứng MOHS). Đá Marble thường biến động nhiều về màu sắc, vân tự nhiên giữa các lô đá khác nhau, vân đá tạo hoa văn và có nhiều màu sắc.

 

1.2. Đá nhân tạo: Được làm từ bột đá thiên nhiên thông qua quá trình phản ứng hóa học để tạo ra sự kết dính, ép lại thành từng khối đá nhân tạo. Đá nhân tạo thông thường người ta tạo màu và vân đá mô phỏng theo một số đá Marble thiên nhiên đá nhân tạo còn gọi là Marble nhân tạo. Đá nhân tạo cứng như đá Marble thiên nhiên, màu sắc và vân đá đồng nhất hơn đá thiên nhiên. Thông thường có 3 cách thức sản xuất đá nhân tạo cho ra những đặc tính sản phẩm khác nhau.

 

Ép sống: tức là dùng bột đá, thông qua phản ứng hóa học để ép lại thành đá khối nhân tạo, loại đá này màu sắc tươi tắn, phong phú, phù hợp ốp hạng mục nội thất như nền, tolet, quầy, trang trí tường…

Ép chín: tức là dùng bột đá thông qua phản ứng hóa học cộng với nung ở nhiệt độ cao, loại đá này rất cứng, có khả năng chống chày xước, màu sắc bền, có thể tốt hơn đá thiên nhiên, có thể ốp cả nội và ngoại thất.

Dạng đúc: dùng bột đá và một số chất hóa học, nung ở nhiệt độ cao, nhưng không phải ép lại thanh khối đá, mà đúc trực tiếp thành đá tấm (slap) có độ bóng tốt, cứng, phù hợp ốp cả nội ngoại thất.

 1.3. Gạch (Ceamic tiles): Đây là loại vật liệu xây dựng phổ biến và lâu đời nhất trên thế giới, là sản phẩm hoàn thiện dùng để trang trí và bảo vệ công trình. Tùy theo tính năng của từng loại, gạch men được dùng để lát sàn hoặc ốp tường, lối đi, cầu thang, hồ bơi....Quá trình để cho ra đời 1 viên gạch qua từ khâu chọn lọc đến khâu phối kết nguyên vật liệu trong thiên nhiên như: cao lanh, trường thạch, đất sét, các loại men màu và những phụ gia khác. Quy trình sản xuất các loại gạch khác nhau thì quy trình công nghệ cũng khác nhau, bao gồm gạch phủ men( Glazed tile), gạch Granite (gạch giả đá: unglazed tile, homogeneous tile), gạch granite phủ men( gres porcelain)...

Gạch phủ men ( Gạch Ceramic có cốt liệu 70% là đất sét và 30% Glazed tile) gồm lớp men phủ trên bề mặt phần xương của viên gạch, đây là 1 sản phẩm rất thông dụng hiện nay. Tùy theo thiết kế của nhà sản xuất ứng với từng công dụng của sản phẩm mà cho ra nhiều loại sản phẩm khác nhau về độ bóng, mờ, nhám hoặc xù xì. Các đặc tính của gạch men lát sàn: độ cứng cao (>5 độ MOHS), độ thấm nước khá thấp (< 6%), khả năng chống mài mòn, chống trơn phải đạt tiêu chuẩn chất lượng và yêu cầu quy định. Đối với gạch men ốp tường thì thiên về trang trí nhiều hơn nên tính chất thẩm mỹ được chú trọng nhất, các tiêu chuẩn kỹ thuật không đòi hỏi phải cao như các tiêu chuẩn dành cho gạch men lát sàn.

    Gạch Granite hay còn gọi là gạch thạch anh, gạch đồng nhất ( unglazed tile), gạch bóng kiếng. Gạch granite gồm 70%  là tràng thạch và 30% là đất sét và một số chất phụ gia khác. Đây là loại gạch lát không lớp phủ men, toàn bộ viên gạch là một khối đống chất về nguyên liệu,độ bóng cũng như màu sắc của gạch là do kỹ thuật mài chứ không có lớp men.Kích thước chuẩn tuyệt đối nên mạch ghép rất nhỏ. Sản phẩm có độ cứng bề mặt rất cao (>5 độ MOHS), độ thấm nước rất thấp(<0.5%), đáp ứng được nhu cầu sử dụng tại các khu vực có độ mat sát cao và lưu lượng người qua lại lớn.

    Gạch Granite phủ men là sự kết hợp tuyệt vời giữa 2 loại gạch nói trên,với thiết kế hoa văn phong phú của phần men cùng với tiêu chuẩn chất lượng cao của phần xương Granite, gạch Granite phủ men đã đáp ứng được các yêu cầu cao về thẩm mỹ cũng như chất lượng đúng theo tên gọi của nó.

1.4. Gạch bông, gạch terrazzo được làm từ bột đá cẩm thạch, cát, xi măng, bột màu.. bằng phương pháp ép thủy lực, sau đó tráng 1 lớp men có độ dày khoảng 2.5mm, độ hút nước đảm bảo <10%. Sử dụng sáp chuyên dụng để đánh bóng.

Tính chất đá

Đá Marble dễ bị bám bẩn và trầy xước do quá trình đi lại gây nên. Các oxit kim loại trong thành phần của đá là chủ yếu tạo nên màu sắc của đá, do đó đá sẽ bị mất màu khi bị các hóa chất mang tính axit hay chất tẩy Clo thẩm xuống mặt đá.

Đá có độ cứng rất cao và chịu mài mòn tốt nên thường được sử dụng ở những nơi nhiều người qua lại.

Nguyên tắc đánh bóng đá

Tùy theo tình trạng của bề mặt đá mà dịch vụ đánh bóng đá quyết định phương pháp đánh bóng.

Phương pháp đánh bóng bề mặt đá được quyết định tùy thuộc vào tình trạng của bề mặt đá. Nếu bề mặt đá bị trầy xước sâu, cũ, mất độ bóng hoàn toàn thì cần phải phá bỏ lớp đá cũ bằng phương pháp tạo ma sát vật lý với đĩa kim cương hoặc pad.

Để làm bóng đá thì sử dụng hóa chất đánh bóng đá. Chú ý khi thực hiện dịch vụ đánh bóng sàn đá.

Do đá có cấu tạo theo thớ đá nên nếu không có lớp bảo vệ thì chất bẩn sẽ thấm sâu xuống bề mặt đá. Rất trơn khi sàn đá bị ướt vì vậy khi lau ướt sàn phải có biển báo.

Cần phân biệt chính xác đá Granite với đá Marble, cũng như phân biệt với các loại gạch ceramic, gạch Granite, gạch porcelain.

Trước khi sử dụng hóa chất, cần phải thử trước ở một nơi khuất để xem hóa chất có làm hỏng bề mặt đá hay không.